Năm 1956, đội ngũ chế tác của Omega được chỉ thị tạo ra chiếc đồng hồ chronograph thế hệ mới, rõ ràng, dễ sử dụng, với cơ cấu chuyển động tin cậy, chính xác, và khả năng kháng nước hoàn hảo. Sản phẩm mà họ tạo ra đáp ứng tất cả những yêu cầu nêu trên. Nhưng vào thời điểm đó, Omega không biết rằng đồng hồ Speedmaster sẽ đóng góp lớn vào công cuộc chinh phục vũ trụ.


Theo Oriental Media Vietnam


1957 –  Speedmaster Broad Arrow

Chiếc đồng hồ Speedmaster đầu tiên thực ra là một thành viên của bộ sưu tập Seamaster, mẫu đồng hồ được biết với cái tên “Broad Arrow” do cây kim giờ độc đáo. Phiên bản ref. 2915 đã thực sự tái định nghĩa thiết kế của đồng hồ chronograph. Nó kết hợp bố cục mặt số tricompax với thang đo tốc độ được chạm khắc trên gờ lắp kính, phô bày mặt số màu đen sắc nét với thiết kế tập trung hoàn toàn vào sự rõ ràng và thiết thực. Những chi tiết nhỏ cũng làm nên sự khác biệt cho phiên bản này: Hợp chất dạ quang trên các kim và vạch chỉ thị giúp người dùng dễ xem giờ trong điều kiện ánh sáng yếu, và kim giây chronograph được bố trí cao gần bằng gờ lắp kính để người đeo dễ theo dõi hơn

1959 – Chiếc Đồng Hồ Omega Đầu Tiên Ra Ngoài Không Gian

Omega thực hiện dự án này cùng với đơn vị sản xuất cơ cấu chuyển động Lemania. Vào thời điểm đó, Lemania là một nhánh của Omega, và calibre 321 được lựa chọn để cấp năng lượng cho đồng hồ Speedmaster. Cơ cấu chuyển động chronograph lên dây cót bằng tay tin cậy và chính xác này được trang bị bánh răng hình trụ và đặt trong chiếc vỏ thép không gỉ có khả năng chống nước tới 60m. Đội phát triển đã mang lại đúng loại đồng hồ mà họ được yêu cầu tạo ra, và vào năm 1957, chiếc đồng hồ Omega Speedmaster đầu tiên được tung ra bán.

1965 – MoonWatch 


Năm 1962, một nhóm phi hành gia người Mỹ thuộc chương trình Mercury đã mua đồng hồ Omega Speedmasters để đồng hành cùng họ trong công việc. Sau đó, họ yêu cầu NASA cung cấp một chiếc đồng hồ để sử dụng trong quá trình huấn luyện, cũng như trong những chuyến bay thực tế ra ngoài không gian. Vì là chiếc đồng hồ sử dụng cho mục đích thám hiểm vũ trụ, nên nó cần đáp ứng các
tất cả các yêu cầu khắt khe của NASA. Năm 1964, sáu thương hiệu chế tác đồng hồ được yêu cầu báo giá cho một trong những mẫu đồng hồ chronogaph lên dây bằng tay. Trong số đó có phiên bản Speedmaster của Omega. NASA đã thực hiện hàng loạt bài kiểm tra toàn diện. Để được lựa chọn, những chiếc đồng hồ này phải chịu được môi trường khắc nghiệt nhất. Cuộc kiểm tra bắt đầu khá nhẹ nhàng, “ứng viên” phải chịu nhiệt độ từ 71-93°C trong hai ngày trước khi chịu cái lạnh -18°C. Tiếp theo, chúng được đặt vào môi trường chân không nóng tới 93°C. Sau khi bị làm nóng tới 70°C thêm một lần nữa, nó bị kết đông nhanh ở -18°C và phải lặp lại quy trình này 15 lần liên tiếp. Sau đó, đồng hồ phải đương đầu với những va đập lên tới 40 G ở sáu vị trí khác nhau, áp suất cực cao và cực thấp, những môi trường có độ ẩm cao và ôxy cao, cũng như các bài kiểm tra tiếng ồn và rung động. Những bài kiểm tra này là màn tra tấn khủng khiếp đối với bốn ứng viên tham gia, có chiếc đã bị phá hủy giữa chừng. Cuối cùng, chỉ có một chiếc đồng hồ vượt qua mọi thử thách và đáp ứng tất cả yêu cầu của NASA: Omega Speedmaster.

Vào ngày 1 tháng 3 năm 1965, NASA tuyên bố đồng hồ Speedmaster “có đủ điều kiện để bay trong tất cả các sứ mệnh không gian có người lái”, vừa kịp để đồng hành cùng Virgil “Gus” Grissom và John Young trong sứ mệnh Gemini 3 của họ sau đó chỉ ba tuần. Chiếc đồng hồ mà hai phi hành gia mang trên tay là là ref. ST105.003. Nó khác mẫu đồng hồ “Broad Arrow” gốc ở các kim to bản và miếng chêm bằng nhôm nhuộm đen có thang đo tốc độ để nâng cao sự rõ ràng. Cũng chính chiếc đồng hồ này đã được đeo lên tay của Edward White, người Mỹ đầu tiên “đi bộ ngoài không gian” vào ngày 3 tháng 6 năm 1965. Sau đó, Omega quyết định đổi tên của đồng hồ Speedmaster thành Speedmaster Professional.
1969 – Speedmaster Mark II


Đồng hồ Speedmaster Mark II xuất hiện lần đầu tiên cùng mặt số của ref. ST105.012. Sự khác biệt chính giữa nó và các mẫu đồng hồ đi trước là chiếc vỏ bất đối xứng. Núm vặn dây cót và các nút ấn chronograph náu mình ở cạnh vỏ để được bảo vệ tốt hơn khi gặp va chạm. Đó cũng chính là lý do NASA chọn chiếc đồng hồ này làm thiết bị chính thức cho các phi hành gia. Vào ngày 21 tháng 7 năm 1969, Speedmaster Mark II làm nên lịch sử khi tàu không gian Eagle đáp xuống Mặt trăng. Điều này mang lại cho nó biệt danh “Moonwatch”, và phiên bản này vẫn được sản xuất đến tận bây giờ với rất ít sự thay đổi.

Một trong những thay đổi đó là sự nâng cấp của cơ cấu chuyển động. Khi Omega tung ra phiên bản ref. 145.022 vào năm 1968, nó được lắp caliber 861, cơ cấu chuyển động được cho là mạnh mẽ hơn. Sự thịnh hành của đồng hồ chronograph nói chung và đồng hồ Speedmaster nói riêng đã thôi thúc Omega bổ sung vào bộ sưu tập nhiều mẫu mới. Một trong số đó là Speedmaster Professional Deluxe, phiên bản bằng vàng hoàn toàn của chiếc đồng hồ Moonwatch. Dù được sản xuất để bán, nhưng những chiếc đồng hồ đầu tiên đã được trao tặng cho các phi hành gia tham gia chương trình không gian để chúc mừng sự thành công của lần đáp xuống Mặt trăng.

Với Speedmaster Mark II, Omega còn thể hiện sự nhạy bén của mình với việc bắt nhịp thị hiếu của những năm 70. Cũng chính vào thời gian này, Speedmaster đã từ một chiếc đồng hồ trở thành một bộ sưu tập độc lập. Dù những chiếc đồng hồ Speedmaster khác đã được bổ sung vào dòng sản phẩm, nhưng vận mệnh của đồng hồ Moonwatch đã có bước rẽ quan trọng với sứ mệnh Apollo 13. Khi con tàu không gian này bị hư hại sau một vụ nổ, máy tính trên tàu không thể xác định thời điểm chính xác để kích hoạt đốt động cơ giúp họ quay trở lại Trái đất. Chỉ cần một sai lầm nhỏ, quỹ đạo của Apollo 13 có thể bị thay đổi và thảm họa sẽ ập đến. Nhờ vào chiếc đồng hồ Speedmaster, Apollo 13 đáp xuống Trái đất an toàn. Sau lần đó, Omega đã được trao giải “Manned Flight Awareness Award,” còn được gọi là giải Snoopy.

(Còn tiếp)


Xem thêm

Omega Tri Ân Dấu Chân Lịch Sử

Tìm hiểu về thương hiệu

Danh sách cửa hàng đồng hồ chính hãng

Tags: